Sao Cự Môn – Minh Tranh Ám Đấu – Khẩu Thiệt Thị Phi

Sao Cự Môn - Minh Tranh Ám Đấu - Khẩu Thiệt Thị Phi - Cohoc.vn

Sao Cự Môn có tượng là cái Miệng. Chủ về lời nói, tranh chấp. Cự Môn vượng thì lời nói đanh thép. Cự Môn hãm thì khẩu thiệt thị phi.

Bài viết này sử dụng bài viết về Sao Cự Môn của Thầy Nguyễn Trọng Tuệ. Vì bài viết quá hay nên mình lấy làm tư liệu chủ đạo cho bài viết này. (Thầy Nguyễn Trọng Tuệ cũng là người chủ trì website này bạn nhé)

Ý nghĩa Sao Cự Môn

Ý Nghĩa Sao Cự Môn - Minh Tranh Ám Đấu - Tử Vi Cổ Học

Sao Cự Môn là sao thứ 2 trong Bắc đẩu thất tinh. Cự Môn thuộc thủy (có thuyết cho rằng Thủy đới Kim). Là sao thiên về Âm tính. Bởi thế, hóa khí của Cự Môn là Ám tinh (che ám). Nhập Thân Mệnh là Hung tinh, chủ về thị phi khẩu thiệt, chính vì vậy mà phú mới viết rằng “Cự Môn định chủ thị phi”.

Nhưng phàm là chính tinh, thì kiểu gì cũng phải có uy lực, tức là cũng phải có mặt tốt. Một trong những cái tốt của Sao Cự Môn là lợi tài, lợi cho việc tranh đoạt, hoạt ngôn đa ngữ. Bởi Sao Cự môn được coi là thần chuyên trông coi về Phẩm chất của vạn vật. Tức là chuyên về nhận xét cái tốt, cái xấu của vạn vật. Cho nên mới gán cho nó cái tiếng “Thị Phi”. Cũng chính vì điểm này mà phát sinh nhiều quan điểm chưa được đánh giá đúng mức về Sao Cự Môn.

Cự Môn Miếu ở Mão Dậu

Vượng ở Tý Ngọ Dần

Đắc Địa ở Thân Hợi

Hãm Địa tại Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ

Luận về Sao Cự Môn thì có 2 tính chất đại biểu rất quan trọng đó là “Khẩu thiệt thị phi” và “Minh tranh ám đấu”.

Khẩu Thiệt Thị Phi

Sao Cự Môn chủ Khẩu Thiệt Thị Phi - Tử Vi Cổ Học

Khẩu thiệt thị phi, tức là nói đến việc hay dính dấp vào chuyện miệng lưỡi – đúng sai. Hay tiếp xúc, hay gặp phải những chuyện liên quan đến lời ăn tiếng nói, đến chuyện đúng sai của cuộc sống. Điều này cần phải hiểu cho đúng, vì không thể có định kiến cứ cho rằng “khẩu thiệt thị phi” là đặc tính không tốt! Nhưng nên nhớ rằng cái gì cũng có mặt lợi mặt hại. Ví thử như nếu làm những nghề về thương trường, về biện hộ, cần đến sự ăn nói linh hoạt, thì đôi khi sự biến báo ngôn ngữ của Sao Cự Môn lại là một đặc tính quý giá.

Minh Tranh Ám Đấu

Sao Cự Môn còn chủ Minh Tranh Ám Đấu - Tử Vi Cổ Học

Minh tranh ám đấu, tức là nói đến cái sự tranh giành quyết liệt ! Điều này cũng không có gì là lạ, khi ngôn ngữ giảo hoạt, hùng biện, thì không dễ gì chịu lùi bước. Phàm đã là chuyện tranh cãi thì đương nhiên cần phải cọ sát đề giành phần thắng. Nhưng cũng còn kèm theo 1 nghĩa nữa cần để ý, đó là cái tính không chịu nhường nhịn. Khi xảy ra tranh giành thường quyết liệt, khó lòng kiềm chế bản thân. Và cũng chính vì thế mà mắc cái tiếng “thị phi”. Hai tính chất này có quan hệ hữu cơ với nhau, cần chú ý khi luận đoán.

Cũng như nguyên tắc thông thường, khi luận về tinh diệu thì cái sự Miếu-Hãm là vô cũng quan trọng. Bởi cũng một tính chất như thế, nhưng Miếu thì khả dụng, mà Hãm thì sinh tai.

Cự môn Miếu ở Mão Dậu, Vượng ở Tý Ngọ Dần, đắc địa ở Thân Hợi. Đều là những đất tốt có thể làm cho cái tính “thị phi” “tranh đoạt” trở thành hữu dụng. Chủ về uy quyền, tài lộc. Còn những đất hãm của Cự Môn là Thìn Tuất Sửu Mùi Tỵ. Chỉ chuyên về thị phi chiêu oán, quan phi kiện tụng.

Sao Cự Môn ở Cung Mệnh

Sao Cự Môn ở cung mệnh là người giỏi lý luận - Cohoc.vn

  • Sao Cự Môn miếu vượng là người có tài ăn nói, giỏi thuyết khách hùng biện, thuyết phục người khác, lời nói đanh thép…
  • Sao Cự Môn Hãm địa chủ người ưa thị phi cãi cọ

Trong Tử Vi Đẩu Số, cổ nhân viết về Sao Cự Môn như sau : “Tại thân mệnh nhất sinh chiêu khẩu thiệt chi phi.

  • Tại huynh đệ tắc cốt nhục tham thương.
  • Tại phu thê chủ vu cách giác, sinh ly tử biệt, túng phu thê hữu đối, bất miễn ô danh thất tiết.
  • Tại tử tức tổn hậu phương chiêu, tuy hữu nhi vô.
  • Tại tài bạch hữu tranh cạnh chi ý.
  • Tại tật ách ngộ hình kỵ, nhãn mục chi tai, sát lâm chủ tàn tật
  • Tại thiên di tắc chiêu thị phi.
  • Tại nô bộc tắc đa oán nghịch.
  • Tại quan lộc chủ chiêu hình trượng.
  • Tại điền trạch tắc phá đãng tổ nghiệp.
  • Tại phúc đức kỳ họa sảo khinh.
  • Tại phụ mẫu tắc tao khí trịch.

Nghĩa là :

  • Tại Thân Mệnh một đời chiêu khẩu thiệt thị phi.
  • Tại Huynh Đệ thì anh em chợ búa với nhau.
  • Tại Phu Thê thì chủ về chia cách, sinh ly tử biệt, không khỏi ô danh thất tiết.
  • Tại Tử Tức thì không có hậu, tuy có mà như không.
  • Tại Tài Bạch thì ắt có sự tranh giành.
  • Tại Tật Ách mà gặp Hình kỵ, mắt có tật, thêm sát tinh mà lâm vào thì chủ tàn tật.
  • Tại Thiên Di thì ứt chiêu thị phi.
  • Tại Nô Bộc ắt là nhiều oán nghịch.
  • Tại Quan Lộc chủ về gặp hình trượng (pháp luật).
  • Tài Điền Trạch thì phá đãng tổ nghiệp.
  • Tại Phúc Đức họa không phải là nhỏ.
  • Tại Phụ Mẫu thì dễ bị bỏ rơi.

Xem như trên thì thấy rằng trong 12 cung địa bàn. Sao Cự Môn dù đóng chỗ nào cũng đều không có chỗ tốt. Nếu nhận xét như thế thì cũng có phần khắt khe quá. Bởi như đã nói, còn phải căn cứ vào xem Miếu Hãm thế nào. Đến như Trần Đoàn lão tổ cũng còn phải nhận xét “Chí Hợi Dần Tị Thân, tuy phú quý diệc bất nại cửu”. Tức là tại Dần Thân, Hợi Tỵ tuy có phú quý mà không bền.

Khi Sao Cự Môn nhập Thân mệnh, Trần Đoàn lão tổ nhận xét

Chưởng chấp thị phi, chủ vu ám muội, nghi thị đa phi, khi man thiên địa, tiến thối lưỡng nan. Kì tính tắc diện thị bối phi, lục thân quả hợp, giao nhân sơ thiện chung ác.

Tức là : “Nắm cái sự đúng sai trong tay, mà lại chủ về ám muội, đúng thì nghi ngờ, mà nhiều điều sai trái. Khinh dối cả đất trời, tiến thoái đều khó. Về Tính thì trước mặt bảo đúng mà sau lưng bảo sai, không hợp với lục thân, giao kết với người thì ban đầu thiện mà về sau ác”.

Sở dĩ trong 12 cung, Sao Cự Môn không được cung nào tốt. Bởi chính tại cái tính “khẩu thiệt thị phi” “minh tranh ám đấu” mà ra cả. Ta cũng phải nhìn nhận cho rõ, tính này có thể lợi ngoài xã hội nhưng với lục thân gia đình thì tuyệt nhiên không hợp. Bởi thế mới nói “Lục thân quả hợp – Không hợp với người thân”.

Nhưng ngoài những đặc tính trên, thì Sao Cự môn cũng chủ về Tài khí. Vì bản thân Sao Cự môn là ngôi thứ 2 trong Bắc đẩu thất tinh. Trong các môn thuật số khác thì Cự Môn được coi là Thiên Y, chủ về vật chất. Cho nên mới nói Cự Môn lợi tài. Nhưng cũng cần phải chú ý, cái Lợi về Tài của Cự là do hệ quả của 2 tính chất trên mang lại. Chứ tuyệt không phải là trực tiếp từ tính chất mà có giống như các Tài tinh khác. Vì thế mà chỉ dám nói là Lợi Tài, mà cổ nhân không dám phê là Tài Tinh.

Về Mệnh số con người, dù thế nào đi nữa, nhưng khi có Sao Cự môn nhập vào Mệnh Thân, ắt sẽ không thể toàn vẹn. Bởi kể cả khi nhập Miếu cũng chỉ là Hư Cát. Cuộc đời ít nhiều sẽ có nhưng điều không được mỹ mãn, đặc biệt là trong quan hệ gia đình. Hơn thế nữa, vận trình cuộc đời ắt sẽ thăng trầm, ít nhất phải qua gian khó một thời mới mong thành nghiệp. Luận về chỗ này, cổ nhân chỉ có một câu “kinh lịch gian tân”. Tùy thời xử thế, nên hay không là ở chỗ có Hợp hay không. Tinh diệu thì vốn có Miếu Hãm, mà sự đời thì cũng có Đắc Thất. Quy luật vận hành của tinh diệu cũng là quy luật vận hành của đời người. Muốn biết được thì nên xem xét cái chu kỳ vận hành của Sao Cự Môn và chòm Bắc đẩu trên 12 cung ắt sẽ sáng tỏ.

Có người hỏi, Cự môn nhập mệnh có phải là kẻ học giỏi không? Chúng ta nhìn vào cách Hóa của Cự Môn. Thấy Cự không hóa Khoa. Thường cái sự khoa bảng của Cự phần lớn đem lại ở tá tinh. Chứ tuyệt nhiên bản thân Cự không phải là sao học vấn. Nếu ai đó cho rằng Cự Môn là sao học vấn thì không đúng. Không nên nhầm danh tiếng với học vấn. Có thể nổi danh, nhưng bằng cấp thì lại là câu chuyện khác. Vậy, người Cự Môn mà muốn thành danh trong học nghiệp, nhất định không thể rời xa bọn Văn tinh Quý tinh. Nhưng khổ nỗi, khi Cự hội được bọn văn tinh, thì dễ thành nhà mô phạm, lại không có lợi cho tiền tài. Cho nên ở một phương diện nào đó, nếu lưỡng toàn cả hai, thì cần hội hợp được cả đám Quý tinh và Hình Tướng Ấn. Thì có thể làm đắc dụng cái ngôn ngữ của Cự Môn mà ra xã hội tranh giành lấy phú quý công danh.

  • Mệnh Cự Môn tại Hợi

Riêu Đà Kỵ – Bộ Tam Ám nổi tiếng

Riêu Đà Kỵ - Bộ Tam Ám nổi tiếng - Cohoc.vn

Sao Cự Môn nằm trong nhóm Ám tinh, nhưng khi gặp đủ bộ Tam Ám Riêu Đà Kỵ thì lại tối kỵ. Vì Sao Cự Môn thuộc Thủy mà gặp Tam Ám thì rất dễ bị tai nạn sông nước. Nếu như không đủ bộ Tam Ám mà chỉ gặp Hóa Kỵ – Người ta còn gọi là cách Cự Kỵ – là cách Ngọc điểm hà tỳ – Ngọc lành có vết. Nên gặp cách này thì cũng hay gặp họa.

Thạch Trung Ẩn Ngọc

Đây là cách cục rất hay khi Sao Cự Môn cư Tý, Ngọ, hội hợp được với cát diệu

Cự Cơ Mão Dậu

Cự Cơ Mão Dậu còn gọi là cách Cơ Cự Đồng Lâm. Cách này lợi tài nhưng gia đạo thường không được yên ổn

Thái Dương Cự Môn – Cự Nhật Dần Thân Cách

Cự Nhật Dần Thân cũng là một cách cục nổi tiếng. Cự Nhật Dần Thân có 2 thái cực (Chỉ được 1 cái, cái này đến trước thì khỏi cái kia)

Tiên Khu Danh Hậu Thực Lộc

Tiên Thực Lộc Hậu Trì Danh

Sao Cự Môn tương phối Lục Sát – Lục Cát

Như đã phân tích ở các phần trước về tính lý của Sao Cự môn. Đành rằng là có các cách cục khác nhau. Nhưng sâu hơn chút nữa, thì ta có thể thấy rằng các cách của Sao Cự Môn đều chịu ảnh hưởng rất nhiều của các tá diệu. Cho nên, xem xét việc Sao Cự môn tương phối với các tá diệu cũng là một kỹ thuật cơ bản để luận đoán các cách cục của Cự Môn.

Cũng theo nguyên tắc thông thường của Tử vi. Các cách cục của Sao Cự Môn tập trung tính chất ở hai đặc điểm chính

  • Sự Miếu Hãm của chính tinh.
  • Sự hội hợp của tá tinh – hóa diệu.

Việc miếu hãm thì chắc không phải bàn nữa. Bởi nó đã thể hiện trong cách cục của Cự Môn rồi. Còn sự hội hợp của tá tinh, hóa diệu thì cũng theo một nguyên tắc chung là “phùng cát dã cát, phùng hung dã hung”. Gặp được sao tốt thì là tốt, mà gặp được sao hung thì là hung. Có thể phân tích các trường hợp cụ thể như sau:

Hóa diệu: Hóa diệu là Lộc Quyền Khoa Kỵ. Sao Cự Môn rất cần Khoa Quyền Lộc hội hợp để thành cách. Nhưng lại rất ngại Hóa Kỵ che ám (trừ một vài trường hợp đặc biệt được gọi là Phản vi kỳ cách).

Chẳng thế mà các câu phú đều tập trung vào việc xem xét sự hội hợp của Hóa diệu với Cự Môn. Điển hình như

“Cự môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát lộc tranh vinh”

Tức là Sao Cự Môn ở Thìn Tuất vốn là đất hãm sẽ không tốt. Nhưng người tuổi Tân thì gặp được Cát Hóa, tài lộc sẽ rất khá.

Như đã dẫn, ngay như cách Thạch Trung Ẩn Ngọc. khi Sao Cự Môn phối với các tá diệu, hóa diệu thì:

  • Gặp Quyền (hoặc) Lộc là Thượng cách
  • Gặp Lộc tồn là Thứ cách.
  • Không có Lộc tồn, chẳng có Hóa cát là tầm thường.

Các sao, các hóa đặc biệt thích hợp với Cự môn là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn. Cổ thư viết:

“Nhược đắc lộc tồn đồng độ, tắc phúc hậu lộc trọng, đãn tính tình kiệm phác nhi cẩn thận, chủ phú. Như hóa quyền, hóa lộc, tắc phách lực cực đại, thiện sang nghiệp, chủ quý”

Nghĩa là: Nếu Sao Cự Môn được Lộc tồn đồng độ, thì phúc dày lộc trọng. Nhưng tính tình thì cần kiệm cẩn thận, chủ về giầu sang. Còn như Hóa Quyền, Hóa Lộc, thì tính quyết đoán rất lớn, dễ gây dựng thành cơ nghiệp.

Đặc biệt là cách Cự Môn Tý Ngọ rất cần Quyền, Lộc. Chẳng thế mà Ngọc Thiềm tiên sinh đã nói:

“Cự Môn Tý Ngọ nhị cung phùng, cục trung đắc ngộ dĩ vi vinh, tam hợp hóa cát khoa quyền lộc, quan cao cực phẩm y tử bào”.

Nghĩa là gặp Sao Cự môn ở hai cung Tý Ngọ, được cục này là vinh hiển. Nếu lại được Hóa Cát trong tam hợp hội về, thì có thể làm quan rất cao, mặc áo tía trong triều đình.

Cự Môn với Lục Cát (Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt)

Sao Cự Môn hội hợp lục cát tinh - Cohoc.vn

Với lục cát tinh, đương nhiên là nhóm của những sao phò trợ rất đắc lực để hỗ trợ thành cách. Nhưng trong đó, Sao Cự môn đặc biệt thích hợp với Tả Hữu hơn. Sao Cự Môn được tả hữu hội hợp, dễ làm nên cơ nghiệp. Tả hữu trợ giúp cho Cự Môn đắc dụng nhất là khi phối hợp được với Lộc tồn, người tuổi Quý được cách này sẽ phần nhiều là quý hiển.

Còn đối với Khôi Việt, ngoài ý nghĩa của Quý Nhân ra, thì Khôi Việt không có sự phụ giúp nào đặc biệt cho Sao Cự Môn cả. Bởi lẽ, Cự Môn dù sao cũng có tính tài khí mạnh, mà Khôi Việt thì chủ quý nhiều hơn, nên tác dụng không rõ rệt lắm. Khôi Việt trợ giúp đắc lực nhất cho Sao Cự Môn khi Cự đóng ở cung Mão Dậu. Trong trường hợp này thì vì có Thiên Cơ đi cùng với Cự, nên rất thích hợp với Khôi Việt, chủ về Quý, dễ thành đạt trong quan trường.

Đối với Văn Xương, Văn Khúc, thì gần như là không hợp với Cự, bởi lẽ Cự vốn là hung tinh, chủ về thị phi, không hợp với văn tinh. Nếu lại gia thêm Hóa Kỵ nữa thì càng không hợp. Duy chỉ có một trường hợp Sao Cự Môn cư Thìn, nếu gặp Xương Khúc, Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc thì lại là Kỳ cách! Phản hung vi cát.

Cách này vốn dĩ nếu xét theo cách bình thường thì không có gì tốt đẹp cả. Cổ nhân đã nói

“Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn”

Hai cung Thìn Tuất ngại nhất là gặp Sao Cự Môn hãm! Tại vị trí này Cự Môn là đất hãm, đối cung là Thiên đồng cũng Hãm. Xét Tam phương hội hợp thì có 2 trường hợp : Cự môn cư Thìn thì sẽ có Thái Dương hãm hội chiếu. Cự Môn cư Tuất thì sẽ có Thái Dương miếu hội chiếu. Mấu chốt vấn đề chính ở chỗ này.

Khi Sao Cự Môn cư Tuất, Vương Đình Chi viết:

“Cự môn tại Tuất cung, Hóa quyền hoặc Hóa lộc giả, nãi kỳ cách, nhân vi Thái dương tại Ngọ cung, thị Nhật lệ trung thiên, hội chiếu Cự môn, tắc âm ám chi khí tiêu tẫn hĩ”.

Tức là, khi Sao Cự Môn đóng ở Tuất gặp Hóa Quyền, Hóa Lộc thì là Kỳ cách. Nguyên do Thái Dương đóng ở Ngọ, nhập miếu là “Nhật lệ trung thiên” sẽ làm tiêu tan cái ám khí của Cự.

Đối với Cự Môn tại Thìn cung, Vương viết:

“Tại Thìn cung, hữu nhất cá trọng yếu cách cục: cự môn dữ Văn xương đồng độ, Tân niên sinh nhân chủ phú quý vô luân. (phường bản chích ngôn cự môn tại thần tuất, “Tân sinh nhân mệnh ngộ phản vi kỳ” , thiểu liễu Văn xương đồng độ giá cá điều kiện) tại Tuất cung kiến cát Hóa diệc vi kỳ cách”.

Tại cung Thìn có một cách cục trọng yếu của Sao Cự Môn. Đó là Cự Môn Văn Xương đồng độ, người tuổi Tân chủ phú quý không kể hết (phường bản* chỉ nói Cự Môn tại Thìn Tuất “Người tuổi Tân mà mệnh gặp được thì lại lại là kỳ cách”, mà thiếu mất điều kiện Văn xương đồng độ). Tại cung Tuất mà gặp Hóa Cát cũng là kỳ cách.

* Sách ngày trước chia làm 2 loại, Kinh bản và Phường bản. Kinh bản là sách chính gốc, còn Phường bản là các sách bản sao của các địa phương khác nhau.

Như vậy, tổng kết lại sẽ có các trường hợp gọi là “kỳ cách” như sau :

  • SaoCự Môn cư Thìn, có Văn xương đồng độ, người tuổi Tân thì đắc cách
  • Sao Cự môn cư Tuất, có Quyền Lộc hội hợp, người tuổi Tân hợp cách.

Chú ý rằng, điều kiện để có được kỳ cách phải rất chặt chẽ, không được sơ hở. Ngoài những điều kiện kể trên, thì bản cung phải sáng sủa, tránh xa Tuần triệt, sát tinh, tam phương tứ chính cần phải có văn tinh, quý tinh trợ thủ thì mới thành cách xác đáng được.

Ngoài ra, như trên đã viết rõ, Sao Cự môn cũng rất cần Lộc tồn để hóa giải mà thành cách. Đẩu số toàn thư viết

“Phùng lộc tồn tắc giải kì ách”

Nghĩa là gặp Sao Lộc tồn thì có thể hóa giải tai ách cho Cự môn. Nhưng đặc biệt chú ý, trường hợp Cự môn cư Mão, người tuổi Giáp thì sẽ bị Kình Dương đồng cung, lại là hung cách.

Cự môn phối với Lục Sát (Không Kiếp Kình Đà Hỏa Linh)

Sao Cự Môn tương phối Lục Sát Tinh - Cohoc.vn

Ngay từ đầu đã nói rằng Cự Môn là Hung tinh, chủ thị phi ám muội “minh tranh ám đấu”. Bởi vậy, khi phối với Hung Sát tinh thì đương nhiên là Khí Cách. Tức là sẽ bị phá cách nặng mà cổ nhân phê rằng “Hủ mộc nan điêu”. Như khúc gỗ đã mục nát, không thể đẽo gọt được thành cái gì cả. Kể cả khi Cự miếu vượng mà hội hung sát tinh thì cũng sẽ bị phá cách, không còn tốt đẹp nữa. Nhưng tùy theo mỗi nhóm Hung Sát tinh mà sẽ có nhưng tác dụng khác nhau đến Cự Môn. Ta hãy thử tìm xem xưa nay người ta luận như thế nào khi Sao Cự Môn gặp Hung Sát tinh.

Sao Cự Môn gặp Không Kiếp

Đối với Không Kiếp: Địa Không, Địa Kiếp là một cặp sao Sát tinh đáng ngại nhất của Tử vi. Thậm chí có người còn cho rằng “đóng đâu chết đó”. Vậy khi kết hợp với Cự Môn, thì đương nhiên sẽ làm tăng tính Hung của Cự Môn. Về cơ chế, thì lúc ấy cái “tính hung” của Cự Môn sẽ phối với “tính hung” của Không Kiếp mà tác họa. Tính Hung của Cự Môn là Thị Phi, Ám Muội.. mà tính Hung của Không Kiếp là “giáng thương nhân, hình pháp, thất tài, cô đơn chi họa”. Tức là giáng họa về thương tích, hình pháp, mất tiền, cô đơn. Cả hai “tính hung” này mà phối hợp với nhau thì khó lòng tránh được tại họa. Ít nhiều thì cũng phải gặp phiền toái.

Đẩu số toàn thư có viết : Thử tinh hóa ám bất nghi phùng, canh hội sát tinh dũ tứ hung, thần xỉ hữu thương kiêm tính mãnh, nhược nhiên nhập miếu khả hòa bình. Nghĩa là, Sao Cự môn hóa Ám tinh chẳng nên gặp làm gì. Nếu lại hội sát tinh thì càng hung, môi răng dễ bị thương tích lại thêm cái tính mạnh bạo, làm việc gì cũng “nóng giận mất khôn” mà để lại hậu quả. Nếu như Sao Cự Môn mà nhập miếu, thì may ra có thể được hòa bình

Như vậy, khi Sao Cự Môn gặp Không kiếp thì nên chú ý. Ngoài việc mang thương tích vào môi, răng, nhưng quan trọng hơn cả là cái tính Thị Phi Ám Muội của Cự bị kích động. Cho nên thường tai họa sinh ra do hành xử nóng giận, vội vã, không kiềm chế được bản thân mình

Sao Cự Môn ngộ Kình Đà

Đối với Kình Đà: Kình Đà là hai sát tinh cũng rất nặng nề của Tử vi. Tác dụng của nó tuy có khác nhau, nhưng cổ nhân nhóm với Hỏa Linh và quy nó về Tứ Hung. Đối với Cự Môn, thì tác dụng của Kình Đà có phần nặng nề hơn Không Kiếp. Trong cổ thư có viết về Sao Cự Môn khi gặp Kình Đà một câu

“Cự Môn Tứ sát – hãm nhi hung”

Tức là khi Sao Cự Môn gặp tứ sát thì không những bị vây hãm, mà còn Hung. Khi Sao Cự Môn gặp Dương Đà Hỏa Linh thì coi như bị phá cách nặng. Không những không thể phát huy được (hãm), mà còn đem tai họa đến (hung)

Trần Đoàn lão tổ có nhận xét rằng “Tham Hao đồng hành, nhân hảo đồ phối. Ngộ đế tọa tắc chế kì cường. Phùng lộc tồn tắc giải kì ách, trị dương đà nam đạo nữ xướng”.

Nghĩa là, Sao Cự Môn mà gặp Tham Hao đồng hành, thì như gặp người bạn tốt. Gặp Tử vi thì có thể chế được tính cường ngạnh. Gặp Lộc tồn có thể giải được ách. Gặp Dương Đà thì trai dễ trộm cắp, mà nữ dễ làm kỹ nữ.

(có nhiều thắc mắc trong câu này của Trần Đoàn lão tổ là Tại sao Cự Môn lại có thể gặp được Tham hoặc Tử vi. Về mặt an sao thì không thể, và cho rằng câu này là man ngôn. Nhưng về mặt phối hợp với nhau để luận đoán, thì trên lá số không hẳn chỉ có một sự phối hợp khi an sao, mà còn nhiều sự phối hợp khác nữa, vấn đề này cần suy ngẫm thêm)

(Gặp ở vận hạn chẳng hạn – Phú Hà)

Bình luận về cách cục CựMôn Dương Đà, Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng: “Cự Môn dương đà vu thân mệnh tật ách luy hoàng khốn nhược đạo nhi xướng”. Nghĩa là, Khi Sao Cự Môn Dương Đà mà đóng vào Thân Mệnh hoặc Tật Ách thì gày còm, vàng vọt, ốm yếu, dễ sinh trộm cắp hoặc kỹ nữ.

“Cự Môn thủ mệnh kiến Dương Đà, nam nữ tà dâm”. Người Cự môn thủ mệnh, nếu trong tam phương tứ chính mà hội Kình Đà, thì thường mang lòng tà dâm.

Với Kình Dương, phê rằng “Cự Hỏa Kình dương, chung thân ải tử”. Tức là Cự Môn mà gặp Hỏa linh, Kình dương. Thì cuối đời cái chết không được bình thường (ải tử – là thắt cổ tự tử), nhưng dịch cho thoáng nghĩa thì nói như trên.

Với Đà la, Phú nói rằng “Đà la đồng cư Thân Mệnh hoặc Tật Ách cung, chủ bần khốn, thể nhược tàn tật, tổ nghiệp phiêu đãng, bôn ba lao lục”. Có nghĩa là khi Sao Cự Môn Đà la cùng đóng ở Thân, Mệnh hoặc Tật ách cung, thì chủ về nghèo khốn, thân thể yếu đuối, tàn tật, bỏ tổ nghiệp mà trôi nổi, bôn ba vất vả.

Ngoài ra, trongTử Vi Đẩu Số Toàn thư còn thêm một câu về hình tướng “Cự Môn, Đà La tất sinh dị chí”. Tức là Mệnh thân mà có Cự Môn, Đà La thì ắt là sẽ có nhưng nốt ruồi khác lạ (câu này bản phường chỉ nói rằng : Đà la tất sinh dị chí, mà không có Cự môn – cần chiêm nghiệm).

Sao Cự Môn ngộ Hỏa Linh

Đối với Hỏa Linh: Hỏa Linh là hai Hung tinh cùng hàng với Không Kiếp Kình Đà. Phối với Sao Cự Môn, thì cũng giống như những hung sát tinh trên, làm cho hung tính của Cự Môn tăng lên mà tác họa. Tính của Hỏa Linh đặc trưng là yểu chiết, cho nên trong Tử vi còn gọi là Đoản thọ sát tinh. Chính vì vậy, mà khi gặp Hung tinh Cự Môn thì trong các cách cục đều phảng phất ý nghĩa này.

Như câu “Cự Hỏa Kình dương chung thân ải tử”, hoặc “Cự môn Hỏa Linh phùng ác hạn, tử vu ngoại đạo” – Cự môn mà gặp Hỏa Linh, nếu vào hạn ác thì có thể chết ngoài đường.

Đối với cách này, thì rất cần phải có Lộc tồn để hóa giải (như trên đã dẫn), và khi nhập hạn thì rất cần Tử vi để áp chế thì có thể hóa giải được cái sự hung hiểm của trường hợp này. Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng “Cự môn Hỏa Linh, vô Lộc tồn Tử vi áp chế, quyết phối thiên lý, tao hung” – Nghĩa là, Cự-Hỏa-Linh mà không có Lộc-Tử hóa giải, áp chế thì phải quyết là sẽ lấy chồng lấy vợ rất xa (thiên lý), mà sẽ gặp hung họa. Nhưng như bài trước đã viện dẫn, khi Cự môn cư Mão, người tuổi Giáp sẽ gặp Kình dương đồng cung, sẽ là hung cách chứ không hy vọng hóa giải được.

Và cuối cùng, có lẽ cũng căn cứ theo tính chất của Hỏa-Linh, thì xưa còn nhận xét rằng Cự môn thủ mệnh, tam hợp sát thấu, tất tao hỏa ách – Cự môn nhập mệnh, nếu trong tam hợp có Hỏa Linh hội về, ắt sẽ gặp hỏa ách

(câu này vẫn còn đang trong vòng nghi ngờ và tranh cãi, cho rằng nó được suy diễn ra từ tính chất của Hỏa tinh. Bởi lẽ Cự Môn thuộc Thủy, gặp Hỏa không có lẽ nào lại kích động hỏa tính của Hỏa tinh được – cần chiêm nghiệm thêm)

Cự Môn Hóa Quyền

Cổ thư để lại khi viết về Cự Môn có viết “tại mệnh bàn chủ khẩu thiệt thị phi, minh tranh ám đấu. Nhược hóa quyền tinh, tắc vi nhân sư biểu, thanh danh viễn dương. Dữ thái dương hội chiếu, tắc quang minh lỗi lạc, năng phú năng quý” – nghĩa là : Cự môn tại mệnh, chủ về khẩu thiệt thị phi, minh tranh ám đấu. Nhưng nếu hóa Quyền tinh, thì ắt sẽ là kẻ mô phạm, danh tiếng bay xa. Cùng với Thái Dương hội chiếu thì quang minh lỗi lạc, lại vừa Phú vừa Quý”.

Cự môn Hóa thành Quyền tinh khi nào? Xem trong bảng tứ Hóa thì thấy :

  • Cự hóa Lộc ở tuổi Tân
  • Cự hóa Quyền ở tuổi Quý
  • Cự hóa Kỵ ở tuổi Đinh
  • Cự môn không hóa Khoa

Đây là Chính thể Hóa cách, đừng nhầm với việc phát biểu Cự Môn – Hóa Quyền. Tức là Cự môn gặp Hóa Quyền hay hội Hóa quyền. Như vậy, câu “nhược hóa quyền tinh, tắc vi nhân sư biểu, thanh danh viễn dương” – là nói đến ý rằng, với người tuổi Quý thì chính thể Cự môn sẽ hóa thành Hóa Quyền, là đắc cách. Còn với người tuổi Tân, vì cách an Tứ Hóa “Tân : Cự – Nhật – Văn Khúc – Văn Xương” – vậy, nếu mệnh người tuổi Tân mà đóng ở tại 4 cung Dần-Thân, Tỵ-Hợi thì đắc cách vì sẽ hội được Lộc-Quyền, cũng là một trường hợp xem xét.

Mà như ở phần trước đã nói : Cự Môn chủ về Thị Phi Khẩu Thiệt, tức cũng chủ về danh tiếng, nếu Cự Miếu Vượng là thành đắc dụng, lại hóa Quyền, thì danh tiếng bay xa. Nếu thêm Quế Hoa, Thiên Ất, đặc biệt là Kình dương nhập miếu hội chiếu thì ắt hẳn danh tiếng không phải là nhỏ, vì “kình dương nhập miếu – cái thế văn chương”. Vì thế Phú Trần đoàn mới luận “Cự Kình Hóa Lộc Tuất Thìn Cung – Tân Quý sinh nhân Phú Quý đồng – Đắc vận thanh danh lưu viễn xứ – Chỉ khủng tha hương lão bất hồi” – Cự Kình Hóa Lộc ở tại Tuất-Thìn 2 cung, nếu người tuổi Tân, tuổi Quý thì được phú quý, nếu đắc vận gặp thời thì tiếng tăm lừng lẫy xứ người, nhưng chỉ sợ rằng sẽ rơi vào cảnh tha hương đến già chẳng về được.

Cự Môn Hóa Lộc

Cự Môn Hóa Kỵ

Hạn hành Cự Kỵ hung thần.

Phải phòng những chốn giang tân mới lành.

Thông thường mọi người hay hiểu theo ý thứ nhất. Giang Tân nghĩa là bờ sông. Ám chỉ hay bị tai nạn sông nước.

Ngoài ra còn có ý thứ 2. Vì tượng Cự Môn Hóa kỵ là Ngọc có vết, cho nên đối với nữ nhân mà hạn đến Cự Kỵ thì dễ bị thất tiết.

Cự Môn có tượng là cái cửa, là cái mồm, nhưng xét về nữ giới, nó còn là bộ phận đặc trưng. Cho nên là khi mà gặp những cách xâm phạm đến Sao Cự Môn thì dễ bị xâm hại đến danh tiết.

Sao chủ mệnh Cự Môn

Sao Cự Môn ở Cung Phu Thê

Cự Môn Hóa Kỵ Cung Phu Thê

Thiên Đồng Cự Môn hãm địa Cung Phu Thê

Sao Cự Môn ở Cung Phúc Đức

Cự Môn Hóa Kỵ Cung Phúc Đức

Cung Quan Lộc có Sao Cự Môn

Cung Tài Bạch có Sao Cự Môn

Sao Cự Môn Cung Thiên Di

Thái Dương Cự Môn Cung Thiên Di

Sao Cự Môn ở Điền Trạch

Sao Cự Môn Cung Huynh Đệ

Sao Cự Môn Cung Tử Tức

Sao Thiên Đồng Cự Môn

Cự Môn Đà La

Cự Môn Thiên Hình

Cự Môn Hóa Kỵ gặp Tuần

Cự Môn Hóa Kỵ gặp Triệt

Thay lời kết

Đây thực sự là bài viết rất công phu về Sao Cự Môn của Thầy Nguyễn Trọng Tuệ (Tuệ Tvnb). Thông qua bài viết này, chắc chắn mọi người sẽ thấy rõ nhất 2 đặc tính của Sao Cự Môn là:

  • Minh Tranh Ám Đấu
  • Khẩu Thiệt Thị Phi

Tuy cổ nhân phê Sao Cự Môn ở vào 12 cung đều xấu. Nhưng chúng ta cần phân biệt rõ tính chất của Sao Cự Môn là miếu vượng hay hãm địa để định rõ cát hung của Cự Môn.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0946 606 078